Dư nợ margin tại các công ty chứng khoán lập đỉnh 9 tháng

Dư nợ margin toàn thị trường lập đỉnh hơn 457.000 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2026, trở thành điểm tựa thu nhập vững chắc cho các công ty chứng khoán.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, thanh khoản thị trường suy giảm nhưng dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán vẫn lập kỷ lục. Khi nguồn thu môi giới chịu sức ép, hoạt động cho vay trở thành điểm tựa của nhiều công ty chứng khoán.

Theo số liệu tổng hợp từ FiinTrade, đến cuối tháng 9/2026, dư nợ margin tại 78 công ty chứng khoán lớn nhất (99,6% vốn toàn ngành) đạt hơn 457.500 tỷ đồng. Con số này tăng khoảng 11.700 tỷ đồng, tương đương 2,6% so với cuối quý II và tăng 56.400 tỷ đồng, tức tăng 14,1% so với cuối năm 2025. 

Dư nợ tập trung cao ở nhóm Công ty chứng khoán lớn, đặc biệt là những công ty có hậu thuẫn từ ngân hàng. Trong đó, TCBS dẫn đầu với khoảng 55.000 tỷ đồng (chiếm khoảng 12% toàn ngành), tiếp theo là VPBankS với khoảng 40.000 tỷ đồng, SSI với khoảng 38.000 tỷ đồng, HSC với khoảng 29.000 tỷ đồng và VPS với khoảng 25.400 tỷ đồng. Nhóm 5 công ty này chiếm khoảng 41% tổng dư nợ, trong khi nhóm 10-15 công ty đầu chiếm 60-74%. 

Trên cơ sở đó, hoạt động cho vay margin là trụ cột lợi nhuận của ngành chứng khoán. Dư nợ lớn giúp các công ty chứng khoán duy trì nguồn thu đáng kể từ hoạt động cho vay và phải thu. Lũy kế 9 tháng, doanh thu từ cho vay đạt khoảng 36.200 tỷ đồng (tăng 54%). 

Cho vay margin "gánh" doanh thu TCBS, chi phí lãi vay tăng mạnhBức tranh tài sản của VPBankS: Gần 40.000 tỷ đồng cho vay margin, "ôm" hơn 16.000 tỷ đồng trái phiếu

Trong quý III/2026, TCBS dẫn đầu với doanh thu margin đạt 1.562 tỷ đồng, chiếm khoảng 45% tổng doanh thu hoạt động. Đứng thứ hai là SSI với 1.115 tỷ đồng (50%), thứ ba là VPBankS với 1.098 tỷ đồng (31%). Còn lại, VPS đạt 947 tỷ đồng (47%), HSC ghi nhận 757 tỷ đồng (60%). Ngoài ra, ACBS thu về 602 tỷ đồng (45%), MBS và Vietcap lần lượt đạt doanh thu margin là 487 tỷ đồng (34%) và 472 tỷ đồng (36%).

Tuy nhiên, khi xét về tỉ lệ doanh thu cho vay trên dư nợ cuối kỳ, TCBS chỉ đạt tỉ lệ 2,85% dù đứng số một về tổng dư nợ và doanh thu tuyệt đối. Trong khi đó, VPS dẫn đầu toàn thị trường với mức 3,7%, tiếp theo là LPS (3,29%), MBS (2,92%) và SSI (2,91%), VPBankS ghi nhận 2,75%, còn đa số các CTCK còn lại dao động từ 2,5% đến 2,7%.

Dư nợ margin các công ty chứng khoán lập kỷ lục trong 9 tháng đầu năm 2026 - Ảnh 1.

TCBS chỉ đạt tỉ lệ 2,85% doanh thu cho vay trên dư nợ cuối kỳ dù đứng số một về tổng dư nợ và doanh thu tuyệt đối (Ảnh: TCBS).

Một điểm đáng chú ý nữa là việc tốc độ tăng dư nợ của hầu hết các công ty chứng khoán đã chậm lại rõ rệt trong quý III. Theo báo cáo của SHS, dư nợ margin cuối tháng 9 đạt khoảng 448.000 tỷ đồng, tăng 21,9% so với cùng kỳ và 12,2% so với đầu năm, quý II so với quý I là 8,1% nhưng riêng quý III chỉ tăng 1,2% so với quý trước. Điều này cũng diễn ra tại các công ty chứng khoán top đầu như TCBS, SSI, VPBankS, VPS, HSC.

Xuyên suốt quý III, thanh khoản thị trường suy giảm trầm trọng với giá trị khớp lệnh bình quân hai sàn HoSE và HNX tụt về ngưỡng gần 18.100 tỷ đồng/phiên. Con số này thấp hơn nhiều mức 23.300 tỷ đồng của quý II và gần 33.600 tỷ đồng của quý I. Theo đó, quy mô cho vay ký quỹ hiện đang đạt tương đương 30 phiên giao dịch, đưa áp lực đòn bẩy lên mức cảnh báo.

Ngoài ra, dòng tiền chờ sẵn của nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán rơi xuống mức thấp nhất kể từ quý IV/2023, chỉ còn khoảng 71.500 tỷ đồng (giảm 17,5% theo quý và suy giảm gần 50% so với đỉnh lịch sử 139.000 tỷ đồng ghi nhận vào quý III/2025).

Bối cảnh margin cao, thanh khoản và tiền mặt thấp tạo ra rủi ro tiềm ẩn, nguy cơ gia tăng áp lực giải chấp hoặc yêu cầu nộp thêm tài sản bảo đảm nếu thị trường chịu các nhịp điều chỉnh mạnh.

Nhìn chung, bức tranh dư nợ margin 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy một nghịch lý: trong khi hoạt động cho vay vẫn đóng vai trò là trụ cột giúp các công ty chứng khoán duy trì cơ cấu thu nhập ổn định trước áp lực suy giảm từ mảng môi giới, thì sự neo cao của đòn bẩy trong bối cảnh thanh khoản cạn kiệt lại đặt ra bài toán quản trị rủi ro và giám sát chất lượng tài sản cấp thiết đối với cả nhà đầu tư lẫn cơ quan quản lý.